Các loại thảo mộc điều trị bệnh gout

Ngày: 05/06/2021 lúc 23:18PM

Gout là một bệnh chuyển hóa phổ biến hiện nay. Ngoài chế độ dùng thuốc, nhiều người đã sử dụng kết hợp sửa đổi lối sống và sử dụng dược liệu. Vậy những dược liệu nào nên sử dụng cho bệnh nhân gout?

duoc lieu

Tổng quan

Các loại thảo mộc được sử dụng để ngăn ngừa và điều trị bệnh viêm khớp do gout được đánh giá một cách tổng quát. Tỏi độc cùng với nguồn colchicin, bao gồm cây ngót nghẻo, được mô tả về ý nghĩa lịch sử và mức độ liên quan với các thuốc colchicin cũng được sử dụng như một loại thảo dược. Ngoài ra có ba loại dược liệu hữu ích cho bệnh gout đã được thảo luận: Cần tây, anh đào ngọt, anh đào chua và cà phê.

Giới thiệu

Hiện nay, bệnh gout là một bệnh phổ biến và gây nhiều trở ngại lớn ở nhiều nước đặc biệt là các quốc gia phát triển. Nghiên cứu ở Trung Quốc đã cho thấy sự gia tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh gout liên quan đến sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa. Tỷ lệ này cao hơn nhiều ở các thành phố phát triển so với các thành phố kém phát triển hoặc các vùng nông thôn. Bệnh gout phổ biến hơn nhiều ở đàn ông trung tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Hầu như không bao giờ gặp trước tuổi vị thành niên ở nam giới hoặc ở phụ nữ tiền mãn kinh. Viêm khớp được mô tả với sự bắt đầu đột ngột của các cơ đau dữ dội và ban đỏ ở các khớp xương cổ tay và ngón chân cái. Tuy nhiên, bệnh gout cũng có thể biểu hiện dưới dạng viêm bao hoạt dịch cấp tính hoặc các biểu hiện khác không điển hình. Các thiết bị xét nghiệm giúp các bác sĩ chẩn đoán viêm khớp gout cấp tính một cách chính xác.

Bệnh gout là một bệnh xảy ra do quá trình lắng đọng của các tinh thể acid uric trong khớp. Nguyên nhân là do sự bất hoạt của gen uricase ở người, một số loại linh trưởng, khỉ đã tích lũy từ 13 - 24 triệu năm trước. Điều này đã làm cho mức acid uric trung bình ở nam giới trưởng thành khỏe mạnh là 6 mg/dl và nhỏ hơn 1 với hầu hết các loại động vật có vú khác. Sự tiến hóa này có lợi vì acid uric là một chất chống oxy hóa mạnh. Chúng chiếm hơn 50% khả năng chống oxy hóa của cơ thể. Vào khoảng 40 - 50 triệu năm trước, điều này đặc biệt quan trọng và có lợi trong điều kiện chất nhầy mất khả năng dây chuyền hominid để tạo ra vitamin C. Khi lượng vitamin C giảm trong chế độ ăn của các dòng tiến hóa tiếp theo, nhu cầu bảo vệ quá trình chống oxy hóa đã xuất hiện nhiều hơn và khả năng mất đi uricase. Cũng có thể là do mất acid uric có lợi vì nó đã giúp tổ tiên loài người duy trì áp lực máu. Dù lý do có thể là gì, rõ ràng là hiện nay một số người bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì những thay đổi di truyền cổ xưa này. Sự cân bằng giữa lượng hấp thụ và sản xuất tiền chất axit uric, purin, và thận đào thải axit uric là rất quan trọng. Ở một người bình thường, thận bài tiết 66% - 75% acid uric, ruột loại bỏ phần còn lại. Hầu hết khoảng trên 90% bệnh nhân gout gặp khó khăn trong việc đào thải acid uric. Các chất vận chuyển URAT 1 rất quan trọng trong việc tái hấp thu gần như hoàn toàn acid uric được lọc bởi thận. Các thuốc probenecid ngăn chặn vận chuyển chất này, giúp gia tăng đào thải acid uric. Amlodipine, atorvastatin, fenofibrate, losartan và corticosteroid đã cho thấy là các thuốc điều trị uric niệu. Tuy nhiên, tác dụng tăng acid uric này dẫn đến nguy cơ hình thành sỏi thận do acid uric cao hơn. Lưu ý rằng aspirin, diclofenac, lợi tiểu quai và thiazid có tác dụng ngăn chặn vận chuyển acid uric làm tăng nguy cơ mắc bệnh gout. Khoảng 10% bệnh nhân mắc bệnh do sản xuất quá nhiều acid uric trong các trường hợp tăng acid uric máu thứ phát do hóa trị hiệu hoặc bệnh tan máu. Nguyên nhân của sự gia tăng này là do giải phóng đột ngột của purin từ các tế bào. Vì thế, nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh gout là giảm lượng purin ăn vào. Cụ thể là tránh thịt đỏ và hải sản. Bên cạnh đó ăn nhiều rau xanh cũng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh. Vì vậy, hầu hết bệnh nhân khi bị bệnh thường ăn kiêng. Nên tránh rượu, bia và các đường fructose, vì những chất này làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh gout. Tăng cường uống nước có thể hỗ trợ bài tiết acid uric và ngăn ngừa tạo thành sỏi thận. Một vài nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa béo phì và nguy cơ mắc gout. Vì vậy giảm cân cũng được khuyến khích cho những bệnh nhân béo phì.

Trong khi một số bệnh nhân sẽ yêu cầu dùng thuốc để giảm tần suất các cơn gout cấp và giảm đau khi bị gout, nhiều người có thể loại bỏ những điều này bằng cách sử dụng kết hợp sửa đổi lối sống và dược liệu. Các loại dược liệu giúp hỗ trợ điều trị gout sẽ được thảo luận dưới đây.

Cây tỏi độc

Là một loài thực vật bản địa Á Âu, thuộc họ Colchicaceae. Tỏi độc được sử dụng làm thuốc hiệu quả cho các cơn gout cấp. Mặc dù nhiều nguồn tài liệu cho rằng loại dược liệu này đã được đề cập nhiều trong thời Ai Cập cổ đại nhưng các đặc tính dược liệu của tỏi độc không rõ được công nhận đầu tiên khi nào. Dioscorides đã đề cập đến chúng nhưng chỉ để cảnh báo về các độc tính của chúng. Có nhiều lời tường thuật không rõ ràng về tỏi độc cho đến khi sĩ quan quân đội Pháp là Nicolas Husson đã giới thiệu một loại trà là trà tỏi độc giúp chữa trị bệnh gout vào năm 1783. Những nghiên cứu vào năm 1800 đã chỉ ra tỏi độc giúp điều trị bệnh gout bằng cách tăng đào thải acid uric trong nước tiểu hay trong máu. Khi hoàn thành phân tích tổng hợp Cochrane năm 2014, vẫn chỉ có 2 thử nghiệm lâm sàng nhỏ, chất lượng thấp được công bố, cả 2 đều hỗ trợ hiệu quả của colchicine trong việc hạn chế các cơn gout cấp. Colchicine liều thấp (0,5mg mỗi 20 phút trong 1 giờ) cũng có hiệu quả như colchicine liều cao (lên đến 4,8 mg trong 6 giờ)

Tuy nhiên việc sử dụng colchicine liều cao gây ra nhiều tác dụng không mong muốn như tiêu chảy, buồn nôn, nôn xảy ra trong khoảng 50% đối tượng thử nghiệm (tỷ lệ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giả dược hoặc nhóm sử dụng colchicine liều thấp). Trong khi đó colchicine liều thấp không gây ra bất kỳ tác dụng không mong muốn nào hơn giả dược.

Trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1820 trong việc phân lập các alkaloid khác nhau (quinine, cafein …) đã phân lập được colchicine. Về cấu trúc hóa học, colchicine là một pseudoalkaloid. Colchicine gây ức chế tổng hợp vi ống, ức chế thoi phân bào và ngăn chặn các con đường viêm khác nhau. Đáng chú ý điều này ảnh hưởng đến hoạt động của bạch cầu, giảm viêm, đặc biệt với các tinh thể acid uric. Không giống như hầu hết các chất ức chế nguyên phân, colchicine hoạt động ở nồng độ thích hợp không can thiệp vào các quá trình trao đổi chất quan trọng khác của tế bào. Điều này làm cho nó đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu về ung thư, di truyền, nội tiết và các quá trình khác.

Từ thời xa xưa, tỏi độc và colchicine là những chất được dùng phổ biến trong đông y. Tỏi độc sau khi chiết xuất sẽ thu được một thành phần đơn phân tử có hoạt tính, còn các thành phần khác thì bỏ qua. Một nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều này là sai khi mà tác dụng này của cây mà không chỉ do mỗi colchicine gây nên.

Một nghiên cứu trên thỏ cho thấy rằng sử dụng cả bột cây tỏi độc với liều lượng 2,5 mg/kg/ngày có hiệu quả tương đương với sử dụng allopurinol. Điều này không thấy khi sử dụng colchicine đơn độc. Nguyên nhân là do ngoài colchicin, trong tỏi độc còn một số các pseudoalkaloid khác như colchicoside và 3-dimethyl colchicine. Các thuốc bán tổng hợp thiocolchicoside đã được chấp thuận để giãn cơ, điều trị đau thắt lưng và các vấn đề tương tự ở một số quốc gia. Demecolcine - thuốc dựa trên colchicine bán tổng hợp được sử dụng để điều trị một số bệnh ung thư.

Ngót nghẻo là một cây khác cùng thuộc họ Colchicaceae, có nguồn gốc từ châu Á và châu Phi có chứa colchicine. Chiết xuất thô của dược liệu này được chứng minh là có thể điều trị ung thư tuyến tụy ở chuột. Ngoài ra nó cũng được dùng để điều trị bệnh gout ở dạng chiết xuất thô. Tất cả điều này đã chỉ ra nên sử dụng chiết xuất thô của tỏi độc nếu thực sự tiềm năng của nó chưa được nhận ra. Tuy nhiên điều này cần được xác định rõ hơn trong các thử nghiệm lâm sàng.

Dược điển Mỹ, cuối năm 1800, đầu năm 1900, sử dụng cồn 55 độ để chiết xuất hạt colchium với tỉ lệ 1:10. Sau đó dịch chiết được sử dụng từ 1-2 ml mỗi 4 giờ cho đến khi giảm đau hoặc buồn nôn nhẹ. Hiện nay phổ biến hơn là sử dụng các dạng cồn thuốc với tỷ lệ 1:5, liều từ 3-5 giọt hai lần mỗi ngày (có thể ít hơn nếu bị tiêu chảy hoặc nôn). Cần chú trọng khi sử dụng loại cồn này với những bệnh nhân suy thận và tổn thương tủy xương do dễ gây quá liều. Ngoài ra cũng đặc biệt lưu ý khi sử dụng colchicine cùng các chất ức chế CYP3A4 (như kháng sinh Clarithromycin hoặc nước ép bưởi chùm) do nó làm tăng sự hấp thu colchicine dẫn tới quá liều.

Thảo mộc điều trị gout: Cần tây, Anh đào và Cà phê

Cần tây được chứng minh là rất hữu hiệu trong điều trị gout. Chúng được biết đến với công dụng lợi tiểu và chống viêm mạnh mẽ. Các tác dụng này do chiết xuất cần tây chứa nhiều phthalides, furanocoumarins và terpenoids. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng chiết xuất cần tây ức chế xanthine oxidase. Cụ thể trên chuột khi điều trị bằng doxorubicin, nước ép từ rễ và lá cây cần tây làm giảm xanthine oxidase. Từ xa xưa, cần tây được sử dụng như một thuốc lợi tiểu, có thể tăng bài tiết acid uric qua nước tiểu. Một tiến sĩ tại Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, tiến sĩ James Duke đã sử dụng cần tây thay cho các thuốc điều trị bệnh gout và mang lại nhiều hiệu quả tốt. Sau đó, nhiều bệnh nhân sử dụng 3-5 cọng cần tây mỗi ngày sẽ giảm được acid uric do bị viêm gout hoặc sỏi thận. Cần tây khá là an toàn khi sử dụng. Có một số tác dụng không mong muốn khi sử dụng cần tây là viêm da ánh sáng khi tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời. Có thể hạn chế tác dụng không mong muốn này bằng cách sử dụng kem chống nắng và quần áo chống nắng để tránh ánh nắng trực tiếp ở những bệnh nhân nhạy cảm.

Trở lại năm 1950, một báo cáo đã được công bố cho thấy những bệnh nhân bị gout ăn khoảng 227 gam anh đào tươi hàng ngày giúp làm giảm nồng độ acid uric và giảm tần suất gặp các cơn gout cấp. Mãi đến năm 2003, báo cáo tiếp theo được công bố. Trong nghiên cứu này, 10 phụ nữ khỏe mạnh đã ăn 2 phần 280 gam quả anh đào. Sau 5 giờ, nồng độ acid uric trong máu trung bình giảm xuống mức thấp hơn đáng kể so với mức cơ bản. Nhiều trang web chỉ cho rằng anh đào chua mới có giá trị. Tuy nhiên ở những nghiên cứu này chỉ ra sử dụng anh đào ngọt cũng tạo ra tác dụng. Năm 2007, Naomi Schlesinger, là trưởng bộ phận nghiên cứu bệnh thấp khớp tại trường Y Robert Wood Johnson ở New York đã công bố một bản tóm tắt một thử nghiệm ngẫu nhiên của chiết xuất anh đào chua. Trong thử nghiệm, người tham gia được uống 1 thìa canh nước ép anh đào chua cô đặc 2 lần mỗi ngày hoặc nước ép lựu với liều lượng tương đương. Sau 4 tháng điều trị, các đối tượng trong nhóm nước ép anh đào đã giảm đáng kể các cơn gout cấp so với nhóm đối chứng. Trong đó 55% nhóm sử dụng anh đào không có cơn gout và có thể ngừng sử dụng thuốc chống viêm phi steroid, còn nhóm đối chứng thì không có đối tượng nào. Trong thử nghiệm in vitro, Schlesinger báo cáo rằng nước ép anh đào ức chế các hợp chất gây viêm tạo ra để phản ứng với các tinh thể acid uric. Nghiên cứu này cho rằng nước ép anh đào ức chế sản xuất interleukin - 1 của các tế bào bạch cầu để phản ứng với acid uric. 

anh dao

Một nghiên cứu cắt ngang khác thực hiện trên 633 người Mỹ trưởng thành mắc bệnh gout tự báo cáo qua mạng. Kết quả cho thấy rằng ăn quả anh đào làm giảm 35% nguy cơ bị bệnh gout so với việc không ăn và uống chiết xuất quả anh đào làm giảm 45% nguy cơ so với không ăn. Những người được hỏi còn cho biết việc sử dụng allopurinol cùng với anh đào đã giảm 75% các cơn gout so với những người không dùng. Một nghiên cứu tương tự trên 293 người khác cũng cho thấy việc sử dụng anh đào giúp làm giảm số lượng bùng phát cơn gout cấp. Một điểm đặc biệt hơn là anh đào rất an toàn khi sử dụng. Vì vậy, hiện nay anh đào được sử dụng điều trị gout là rất phổ biến.

Cà phê cũng được nghiên cứu rộng rãi về tác dụng của nó đối với bệnh gout. Một phân tích tổng hợp của 11 nghiên cứu dịch tễ học đã kết luận rằng, mặc dù không làm giảm nồng độ acid uric tuy nhiên uống cà phê làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh gout. Một phân tích khác của 9 thử nghiệm dịch tễ học cho thấy cà phê làm giảm acid uric. Tuy nhiên điều này khác nhau giữa nam và nữ giới. Cụ thể phụ nữ mất nhiều thời gian hơn để giảm acid uric so với nam giới. Lượng cafein trong cà phê không ảnh hưởng tới tác dụng này của chúng. Trong ống nghiệm, chiết xuất nước của hạt cà phê rang đã ức chế xanthine oxidase và các lacton cyprtin và neochlorogenic. Những hợp chất này là đồng phân của acid chlorogenic, một dẫn xuất lignan dồi dào được tìm thấy trong cà phê xanh và được hình thành chủ yếu trong quá trình rang. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu để xác định cơ chế tác dụng của cà phê cũng như vai trò lâm sàng trong ngăn ngừa và điều trị bệnh gout.

Kết luận

Nhiều dược liệu và thuốc có thể giúp ngăn ngừa, giảm đau và điều trị các cơn gout cấp. Các loại dược liệu như tỏi độc, cần tây, anh đào và cà phê có nhiều hiệu quả đáng kinh ngạc đã được trình bày trong bài này. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều thảo dược có triển vọng khác. Vì thế cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa để giúp phát triển đầy đủ các loại thảo dược điều trị bệnh gout.

Tài liệu tham khảo từ các nghiên cứu trên thế giới:

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26150127/

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/18634142/

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/11961098/

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2684330/

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/22240117/

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/15660328/

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/16375736/

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/16462528/

 

Nguyễn Thanh Vân
BÌNH LUẬN
Tin cùng chuyên mục

        Dược sĩ tư vấn